08 - Nguyễn Huệ Thành Phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
02333.556.135baotangtinhqt@gmail.com
  • Tổ hợp trưng bày Bom
  • Súng Thần công
  • Bức phù điêu Lá Nhĩ (tympan) Trà Liên 2
ẤN PHẨM, BÀI VIẾT

VÀI NÉT VỀ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA HAI TỘC NGƯỜI BRU - VÂN KIỀU VÀ TÀ ÔI Ở QUẢNG TRỊ


Ngày cập nhật: 07/05/2018 00:00:00

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, sắc thái văn hoá Việt Nam vừa thống nhất vừa đa dạng. Trong đó, trang phục các tộc người là một nét văn hoá đặc sắc, nó không chỉ là thành tố quan trọng góp phần tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người mà còn tạo nên sắc thái văn hoá riêng độc đáo cho từng dân tộc, từng nhóm ngôn ngữ và từng vùng văn hoá.

Định cư ở phía tây Quảng Trị thuộc các huyện Hướng Hoá, Đakrông, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh, Bru - Vân kiều và Tà ôi là hai trong những tộc người có nguồn gốc lâu đời trên khu vực Trường sơn - Tây nguyên nói chung và Quảng Trị nói riêng. Mỗi một dân tộc mang một nét bản sắc văn hoá độc đáo, góp phần làm nên sự đa dạng văn hoá trong cộng đồng 54 dân tộc việt Nam. Trong các yếu tố tạo nên sắc thái văn hoá đó, trang phục là một trong những yếu tố độc đáo, đa dạng mang đặc tính riêng của mỗi tộc người, đồng thời có những sắc thái chung và tương đồng, từ quy trình dệt vải, các loại y phục, màu sắc đến đường nét hoa văn. 

Trước khi biết đến nghề trồng bông, đay để xe sợi dệt vải thì người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi đã có kinh nghiệm trong việc sử dụng những võ cây từ các cây hoang dại để tạo ra trang phục hoặc chế biến thành sợi dệt vải. Tập quán này đã được chứng minh qua những chiếc áo, khố sản xuất từ vỏ cây A mưng (theo tiếng gọi người Bru - Vân kiều) hiện có tại bảo tàng Quảng Trị. Từ thân cây A mưng được chọn, họ dùng đùi đập nhiều lần lên lớp võ cây ở hai đầu đoạn gỗ và bóc tách dần ra, đem lớp võ này ngâm vào trong hỗn hợp nước gồm lá mía, cây sả và củ gừng giã nát trong thời gian khoảng 10 ngày để khử nhựa độc, sau đó đem tấm võ phơi nhiều ngày. Người ta dùng dây mây vót nhỏ để khâu vỏ thành áo, khố. Đây cũng là chất liệu và các loại trang phục cổ nhất của hai dân tộc Bru - Vân kiều và Tà ôi ở Quảng Trị.

Về sau khi biết đến nghề trồng bông, đay để kéo sợi dệt vải thì trang phục của người Bru - Vân kiều và Tà ôi mang màu sắc và kiểu dáng phong phú hơn phù hợp với điều kiện và quan niệm thẩm mỹ của từng dân tộc.

Theo tác giả Dương Văn An trong “Ô châu cận lục: “Từ thế kỷ XV - XVI, các trang sách của thổ dân châu Thuận Bình đầu nguồn Viều Kiều ngoài ngà voi, ngựa, thuỷ sa đã sản xuất ra vải hoa làm màn, gai sống, da thú làm các thứ gấm, thổ cẩm hoa trắng, vải bông trắng, bông xanh, các loại sản phẩm này đều phải nộp cho nhà nước hàng năm để tính vào lệ thuế đầu nguồn”(1); và theo Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục”: “Thời chúa Nguyễn, châu Sa Bôi hàng năm phải nộp thuế công 1 con voi đực, 2 bức màn vải, 25 tấm vải trắng, châu Thuận Bình 1 con voi đực, 1 bức màn vải, 10 tấm vải trắng. Đạo mường vang nộp 1 con voi đực, 40 tấm vải trắng...”(2).

Điều này chứng tỏ sản phẩm nghề dệt của người Bru - Vân kiều và Tà ôi  từ xưa đã rất phát triển và có chất lượng cao. Họ trồng bông, đay lấy sợi rồi tách hạt, tách bông, cán bông, vấn bông, xe sợi. Ban đầu phần chỉ sợi lấy được là màu trắng ngà. Tiếp theo người thợ khai thác các loại cây trong thiên nhiên để chế biến thành thuốc nhuộm, tạo màu sợi, biến chúng từ sợi thô, đơn sắc thành nhiều màu sắc khác nhau, từ đó đưa vào khung dệt. Thông qua  kỷ thuật dệt các tay thợ  tiếp tục sáng tạo nên sắc phục, hoa văn trang trí... nhằm phản ánh một cách sinh động về đời sống vật chất và tinh thần của họ. Trong trang phục của người Bru - Vân kiều và Tà ôi hai màu đen và đỏ là màu chủ đạo, ngoài ra còn pha lẫn màu trắng, tím, vàng, xanh để dệt các đường viền và tạo các dãi màu để bố cục thành hoa văn. Nguyên liệu chính để chiết xuất màu đen được lấy từ thân và lá cây Tà râm, sau đó trộn thêm võ ốc và mật ong; còn màu đỏ được lấy từ cây achất, aư; màu vàng được chế từ củ cây Arác hoặc Abial; màu xanh lá cây từ hỗn hợp nước lá cây Anách và Tà râm; màu tím từ rễ cây Sim.

Các mô típ hoa văn thường thấy trên trang phục người Bru - Vân kiều và Tà ôi được tạo bằng kỹ thuật dệt, trang trí theo dãi băng ngang và được liên tưởng từ các hiện tượng tự nhiên xung quanh, gồm: hệ mô típ thực vật như cây cổ thụ Kating, Tù vạt (lá đoát), Aun (cây bắp), A rập, A rác, lá cây đùng đình… Hệ mô típ động vật như hình hai con nhện, hình con bướm, hình con dơi đang bay, hình nam nữ đang múa (ngai răm/ ngaizazăq), hình con chim trĩ, hoa văn dấu chân gà, hình con châu chấu… Hệ mô típ đồ vật như hoa văn 4 hình thoi giao nhau (tượng trưng hạt mã nảo), Arờbứu hình chữ X (bếp lữa)… Hệ mô típ hình học khác như hình tam giác, đường zích zắc, hình chữ thập, hình thoi...

Nhìn chung trang phục của người Bru - Vân kiều và Tà ôi mang những nét chung của các dân tộc sống trên dãy Trường sơn - Tây nguyên. Theo truyền thống thì một bộ đồ mặc đầy đủ của người Bru - Vân kiều và Tà ôi thường có: 1 cái khố, 1 cái áo và một tấm choàng cho người đàn ông; 1 cái váy với nịt lưng và một cái áo cho người phụ nữ.

Trang phục của người Bru - Vân kiều:

Người phụ nữ Bru-Vân Kiều thường búi tóc, người có chồng thì búi trên đỉnh đầu, người chưa chồng thì búi phía trái. Khăn vuông đen (nhóm Vân Kiều) và khăn vuông trắng (nhóm Khùa) được quấn ngoài tóc, hai đầu khăn thít lại để vểnh lên như hai cái tai. Áo truyền thống của họ là áo dài tay (Dâng nam), màu đen, xẻ hai tà trước ngực có đính cúc hoặc dây để cài hai thân với nhau,  thân áo cắt  thắt eo. Áo kiểu cổ đứng, cao khoảng 3 cm, ở cổ và hai nẹp áo phía trước được viền  thêm dãi hoa văn hình thoi, hình sao, hình tam giác với các màu đỏ, xanh, vàng, tím và có đeo thêm từ 2 đến 4 hàng tiền, “bạc trắng” ở trước ngực. Phần gấu áo ở cả 2 thân trước và sau trang trí các mô típ hoa văn hình quả trám, hình tam giác, hình chữ thập... rộng khoảng 6- 8cm tạo thành một dãi hoa văn chạy quanh thân. Đường nối giữa thân áo trước và sau được may bằng những đường chỉ màu đỏ, xanh, vàng. Chổ thắt eo có những hoa văn hình lá cây màu trắng, vàng và đỏ. Ống tay được khâu nối ở nách áo, chỗ nối giữa thân áo với ống tay được khâu chỉ màu đỏ, trắng theo hình xương rắn. Tất cả các trang trí này được tạo nên bởi kỹ thuật dệt và khâu chỉ màu

Váy của phụ nữ khá đơn giản, hầu như chưa có kỷ thuật cắt may mà chỉ là một tấm vải hình chữ nhật có chiều dài khoảng 120 - 140cm và chiều rộng khoảng 80-100cm quấn từ trước ra sau và gấp nếp chéo trước bụng. Hoa văn trang trí trên váy phong phú với nhiều họa tiết khác nhau chạy ngang ôm thân váy như hình răng cưa, sống nước, zích zắc, thoi.... Khi mặc váy người Vân Kiều còn sử dụng thêm thắt lưng (Pakun) quấn ở ngoài. Thắt lưng thường làm bằng thép mạ, dài khoảng 1m, gồm nhiều mắt xích nối với nhau, mỗi mắt xích khoảng 1,2 + 2,5 cm.

Để có bộ trang phục đẹp người Bru - Vân Kiều còn đeo thêm trang sức, đó là vòng tay, vòng cổ và khuyên tai. Vòng cổ nổi tiếng là chuỗi hạt mã não (karayhột) được kết từ nhiều hạt nhựa cứng màu đỏ sẫm, hình lục giác được nhập về từ Lào. Đây là vật vừa mang tính trang sức vừa mang tính tâm linh của người Bru - Vân Kiều. Vòng tay (kăng) là vòng bạc, đồng bào thuê người Kinh đúc, vừa là trang sức, vừa thể hiện tiềm lực kinh tế, được đeo thường ngày và cũng là vật tặng lúc lễ cưới. Đồng thời đồng bào quan niệm, vòng tay này là nơi trú ngụ linh hồn của người đeo, nó được dùng tế linh hồn thần thánh trong lễ hội. Thầy cúng cũng có chiếc vòng cổ riêng (Trục), là một chuỗi hạt có màu xanh, vàng. trắng tượng trưng cho đất trời, cây cối và tấm lòng con người. Khi hành lễ thầy cúng đeo chuỗi này vào cổ và lần tay theo từng hạt kết hợp đọc lời khấn. Hiện nay chuỗi hạt này ít thấy.

Đối với đàn ông thường ngày họ đóng khố cởi trần hoặc mặc áo Chù hoe rộng.  Khố là 1 khổ vải rộng khoảng 30 - 40cm, dài từ 3 - 5m khi mặc khố được quấn quanh thắt lưng và qua háng, hai đầu khố thả xuống gần mắt cá chân. Tùy vào mục đích mà người đàn ông Bru - Vân kiều sử dụng các loại khố có chiều dài và hoa văn khác nhau. Khi ở nhà hoặc đi làm nương rẩy thường họ sử dụng khố có chiều dài ngắn hơn, thường cao hơn mắt cá chân khoảng 20 đến 30 cm, màu sắc thường không sặc sở mà chủ yếu là màu chàm, chất liệu vải thô ráp hoặc có thể là đồ khố dùng cho lễ hội đã củ. Ngược lại khi đi lễ hội, đi chơi hoặc tiếp đải bạn bè họ thường mặc khố dài tới mắt cá chân, được dệt bằng vải đẹp, có màu sắc sặc sở hơn, trên khố có trang trí hoa văn dọc theo chiều dài và hai đầu vạt khố, hai đầu khố có đính sợi tua với nhiều màu sắc khác nhau dài khoảng 8 cm.

 Áo chù hoe là kiểu áo có khuy bằng gỗ cài trước ngực, gần vai có viền hai sợi chỉ màu đỏ, có hai túi trước bụng. Trong những ngày giá rét hoặc tham gia các lễ hội họ có quàng thêm tấm choàng.

Trang phục của người Tà ôi:

 Người phụ nữ Tà Ôi mặc áo (Nóp) đơn giản hơn, theo kiểu chui đầu  không có tay. Áo được trang trí bằng cách nhuộm chàm, xen kẻ các sợi màu đỏ, tím vàng hoặc dùng các hạt chì, hạt cườm xâu sẳn vào sợi ngang ngay lúc dệt vải. Hoa văn chủ yếu bố trí thành những vòng đai ôm quanh thân áo thường tập trung thành hai mảng tại vùng bụng và vùng ngực, một ít hoa văn chạy dọc thân áo với các mô típ là “lá đùng đình”, “chân gà”,hoa mua”,ngôi sao”, … đã tạo ra sự hài hòa, cân đối và có tính thẩm mỹ cao. Ngoài ra, trang phục phụ nữ còn có dây quấn đầu dệt bằng vải thổ cẩm có chiều dài khoảng 50 cm, rộng khoảng 5cm, được trang trí bởi các dãi hình ngang và hoa thị trải dài với màu đỏ là chủ đạo.

Váy của phụ nữ Tà ôi được dệt từ sợi bông, may theo kiểu váy ống và được may ghép từ hai khổ vải dệt cổ truyền. Váy đẹp  là loại có dệt hoa văn bằng hạt cườm trắng nhỏ, quý hơn nữa là hạt bằng chì. Trên nền vải đen nhuộm chàm, những hình thoi, tam giác, đoạn thẳng kết hợp với nhau tạo thành các mô típ hoa văn được bố trí bằng các vòng đai ôm quanh thân người mặc. Những đai hoa văn cườm hoặc chì xen lẫn những đai dệt bởi màu đỏ, xanh, vàng, đen. Đặc biệt hoa văn phân bố dày đặc ở đoạn từ khoảng đầu gối trở xuống. Khi mặc, tùy tay thuận mà quấn váy sang bên phải hay bên trái rồi dắt múi ở cạp váy. Phụ nữ Tà ôi có tục khi chưa lấy chồng thì mặc váy dài quá gối khi đã lấy chồng thì mặc váy ngang đầu gối. Để cố định váy khi mặc, người phụ nữ dùng thắt lưng (Arteng). Dây thắt lưng có chiều dài khoảng 1,2m đến 1,4 m và bề rộng khoảng 5 đến 7 cm. Với dây lưng sử dụng trong lao động chủ yếu có màu sắc nền chàm, ít trang trí hoa văn. Trong những lúc sang trọng người Tà Ôi sử dụng dây thắt lưng làm từ vải mịnh, có chất liệu tốt, có màu trắng được trang trí các đường hoa văn theo hình thoi hoặc ca rô được tạo bởi dãi chỉ đỏ chạy dọc dây lưng, hai đầu dây lưng được trang trí những tua vải đỏ, hồng, xanh… dài từ 10 đến 15 cm kết hợp điểm xuyến những hạt cườm trắng hoặc chì cùng với những chùm quả bông kết bằng sợi màu đỏ tạo nên sự mềm mại của hai đầu dây lưng khi rủ xuống.

Cũng giống như phụ nữ Bru - Vân kiều, để tô điểm thêm cho vẽ đẹp của bộ trang phục người Tà Ôi còn sử dụng các loại hình trang sức là vòng đeo cổ, đeo tay và khuyên tai. Ngoài chuỗi hạt mã não, người Tà Ôi còn sử dụng vòng cổ được nối từ nhiều vòng kim loại (hiện nay ít thấy sử dụng). Phụ nữ Tà Ôi còn dùng chuỗi hạt đeo cổ làm từ 3 loại hạt cườm nhựa có màu sắc và kích cở khác nhau: hạt to (rol), hạt vừa (têng), hạt nhỏ (arác) và điểm xuyến thêm một số hạt mã não. Khuyên tai của người Tà Ôi trước đây là một vòng kim loại nhỏ, có thể bằng bạc hoặc mạ bạc, cốt là đất sét. Ngoài ra còn có loại khuyên kim loại đặc, thường bằng đồng hoặc bạc. Từ 10 - 12 tuổi, các bé gái đã được xâu lỗ tai và khuyên tai. Theo tuổi tác, người ta đeo khuyên to dần lên, càng về già, lỗ đeo càng rộng ra, dái tai càng xệ xuống, người ta coi đó là một vẽ đẹp sang trọng. Tuy nhiên, phong tục này ngày nay chỉ còn ở những người già.

Trang phục của đàn ông Tà ôi khá đơn giản, thường ngày thì cởi trần hoặc mặc áo cánh chui không tay như phụ nữ. Trong những ngày nắng ấm hoặc tham gia các lễ hội họ còn sử dụng áo Pahôl: là loại áo không có trang trí hoa văn cườm, diềm tua, chiều dài trung bình khoảng 4m5, rộng khoảng 60 đến 70 cm. Khi mặc Pahôl, người đàn ông Tà Ôi vắt choàng ra sau lưng qua vai phải ra trước bụng rồi vắt qua vai trái. Nhìn vào người mặc ta thấy sau lưng và trước mặt tạo ra hình chéo giống như hình chữ X. Đây có thể xem là loại hình trang phục đặc sắc của người Tà Ôi. Ngoài ra trong lúc tham gia lễ hội và trong những ngày giá rét họ còn khoác ra bên ngoài tấm choàng. Phía dưới đóng  khố như đàn ông Bru vân kiều.

Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, trang phục truyền thống của người Tà Ôi và Bru - Vân Kiều không chỉ có  giá trị văn hóa vật chất để bảo vệ con người mà còn mang giá trị văn hóa xã hội và tinh thần gắn bó với sinh hoạt, nếp sống của gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó, với hoa văn trang trí, màu sắc và hình dáng đa dạng, trang phục đã thể hiện tính thẫm mỹ dân gian và tính thống nhất trong sự đa dạng của tộc người. Đồng thời trang phục cũng là nguồn sử liệu phản ánh giá trị lịch sử, văn hóa, tinh thần của cộng đồng Bru - Vân Kiều và Tà Ôi.

Ngày nay do tác động của nhiều yếu tố, nhất là sự tác động về văn hóa, kinh tế, đã làm biến đổi trên mọi phương diện của đời sống xã hội đồng bào dân tộc Bru - Vân Kiều và Tà Ôi. Trong quá trình biến đổi, trang phục của người bản địa đã chịu sự ảnh hưởng từ loại hình, trang trí hoa văn và chất liệu... Bên cạnh trang phục truyền thống người Bru -Vân Kiều và Tà Ôi còn sử dụng áo quần theo kiểu người Kinh hoặc mặc áo theo kiểu người Lào... Nguyên liệu sợi, sản phẩm màu, chỉ công nghiệp đã được đồng bào một số nơi mua về sử dụng để dệt vải. Ngoài ra, hình ảnh các đồ vật thời hiện đại cũng đã xuất hiện trên các mô típ hoa văn của trang phục như máy bay, tên lữa, cây cột điện…. Các đồ trang sức truyền thống cũng dần biến mất, thay thế vào đó là các đồ trang sức được mua ở thị trường đẹp hơn, có giá trị vật chất cao hơn như cườm, vòng bạc, nhẫn vàng…

Sự biến đổi trên là một thực trạng khách quan phản ánh tính tất yếu các mặt đời sống văn hóa, xã hội. Đồng thời khẳng định tính văn hóa “động” của trang phục gắn bó mật thiết với đời sống con người. Vì vậy, việc nhận diện tính văn hóa trong trang phục là rất cần thiết nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tộc người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi theo tin thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước./.

Trích từ: Thông tin khoa học số 1 năm 2013.

Tác giả: Trần Thị Nhàn

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
NGHỀ CHẺ ĐÁ Ở VÙNG TÂY GIO LINH (5/11/2018)
VỀ NHÓM HIỆN VẬT "HỦ GẠO TIẾT KIỆM" TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (5/9/2018)
ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (16/8/2018)
VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYÊN HƯỚNG DẪN VÀ GIỚI THIỆU KHÁCH THAM QUAN TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (14/8/2018)
(6/8/2018)
DI TÍCH VĂN HÓA CHĂM PA Ở QUẢNG TRỊ - NHÌN TỪ NHỮNG HUYỀN TÍCH ĐÃ ĐƯỢC VIỆT HOÁ (25/7/2018)
MỘT SỐ PHÁT HIỆN MỚI VỀ KHU CÔNG XƯỞNG CHẾ TÁC CÔNG CỤ ĐÁ CỦA NGƯỜI NGUYÊN THUỶ Ở XÃ HƯỚNG LẬP, HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ. (21/6/2018)
THƯỢNG THƯ LÊ TRINH - MỘT ĐẠI THẦN TRIỀU NGUYỄN CÓ TÌNH CẢM VỚI QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC (4/6/2018)
VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ. (4/6/2018)


Thiết kế bởi: Công ty TNHH MTV Xa Lộ Thượng mại