08 - Nguyễn Huệ Thành Phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
02333.556.135baotangtinhqt@gmail.com
  • Tổ hợp trưng bày Bom
  • Súng Thần công
  • Bức phù điêu Lá Nhĩ (tympan) Trà Liên 2
ẤN PHẨM, BÀI VIẾT

XÂY DỰNG BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ TIỀM NĂNG VÀ THÁCH THỨC


Ngày cập nhật: 26/06/2018 00:00:00

Đầu những năm 90, khi Quảng Trị lập dự án xây dựng nhà Bảo tàng thì đâu đó trong giới Bảo tàng học, một số nhà quản lý văn hoá và báo chí đã nêu câu hỏi: có thật cần thiết không việc xây dựng các Bảo tàng địa phương, hay chỉ nên tập trung xây dựng các Bảo tàng Trung ương và một số Bảo tàng chuyên đề? Câu chuyện này gần giống như việc cùng thời gian đó nhiều người lên tiếng đề nghị bỏ hết các đài Phát thanh - Truyền hình địa phương?

Chúng tôi có thể thấu hiểu được tâm trạng những người có loại ý kiến đó vì trên thực tế đã có sự trùng lặp gây nhàm chán bởi nhiều mô hình Bảo tàng tổng hợp ở các tỉnh khá giống nhau. Tuy nhiên, yếu kém ở khâu nào thì phải sáng tạo khắc phục khâu đó, chứ không thể bỏ việc bảo tồn di sản văn hoá địa phương, tập trung vào Trung ương, làm vậy là đi ngược lại quy luật bảo tồn di sản văn hoá và cũng ngược lại đường lối văn hoá của Đảng.

Bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hoá dân tộc là nhiệm vụ cốt tuỷ của sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, đặc biệt là trong thời đại mở cửa và hội nhập. Trong các công cụ để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá thì Bảo tàng là một công cụ đắc lực, tiêu biểu và lâu bền nhất. Nói nó lâu bền bởi vì trùng tu, tôn tạo các di tích cũng là công cụ đặc hiệu, thậm chí trong một số trường hợp cụ thể di tích còn có khả năng truyền cảm mãnh liệt hơn Bảo tàng; tuy nhiên, hiện vật gốc ở các di tích luôn bị thời gian và thiên tai đe doạ, phá huỷ. Đặc biệt là loại hình di tích chiến tranh - cách mạng như ở Quảng Trị thì công việc bảo tồn hiện vật gốc ở một số di tích đôi lúc là bất khả thi. Ví dụ ở Quảng Trị, di tích Đôi bờ cầu Hiền Lương, cái gốc thật sự còn lại chỉ là dấu vết mố cầu của chiếc cầu năm 1952 (cầu chia cắt). Tất cả những gì hiện đã làm ở di tích này là những công trình tái hiện và những biểu tượng tôn vinh. Mặt khác, đến với một di tích là đến với một mảnh di sản độc lập, không thể có được cái nhìn toàn cảnh, và mỗi một du khách không phải ai, không phải lúc nào cũng có điều kiện để được đi đến nhiều di tích, được nhìn thấy một lúc tương đối toàn diện bộ mặt lịch sử văn hoá của một địa phương.

Di sản văn hoá phải được bảo tồn trong chính không gian văn hoá đã sản sinh ra nó. Vì vậy, Bảo tàng khảo cứu địa phương là một thiết chế không thể thiếu, các Bảo tàng quốc gia không thể làm thay. Vấn đề là làm sao để các Bảo tàng địa phương không trùng lặp nhau về chủ đề, nội dung cũng như phương thức thể hiện để người xem khỏi bị nhàm chán. Đó là bài toán khó nhất cho các tỉnh khi lập dự án xây dựng Bảo tàng.

Ngoài thách thức chung đó, tỉnh Quảng Trị còn có những cái khó riêng.

1. Khó khăn trước hết là sự khan hiếm hiện vật. Do hoàn cảnh lịch sử mà Quảng Trị là mảnh đất chịu sự huỷ diệt và ly tán dữ dội nhất trên đất nước Việt Nam. Quảng Trị có trên 1.000 làng, qua cuộc chiến tranh huỷ diệt ở cả hai miền Nam - Bắc, chỉ còn ba làng tạm gọi là nguyên vẹn. Khoảng hơn một nửa số làng gần như bị tuyệt diệt. Nhân dân trên các địa phương Quảng Trị hầu như đều phải ly tán. Bên Vĩnh Linh (bờ Bắc) thì sơ tán ra Bắc hoặc đào sâu xuống lòng đất để tồn tại. Dân ở bờ Nam thì bị xúc khỏi làng để lập vành đai trắng hoặc phải di tản ra khỏi vùng. Với một sự biến động dữ dội như vậy thử hỏi còn ai có thể lưu giữ được những hiện vật quý hiếm.

Tuy nhiên, nói đến sự mất mát hiện vật thì chiến tranh chưa phải là tất cả nguyên nhân. Cái gia tài khổng lồ đó đã bị mất ngay trước tầm mắt mà không làm gì được. Đó chính là việc tách nhập địa giới hành chính tỉnh, rồi những năm tháng vật lộn mưu sinh của người dân sau cuộc chiến. Nhiều hiện vật chiến tranh vốn là “đặc sản” ngổn ngang trên đất Quảng Trị như xe tăng, bom mìn, các loại vũ khí, nhất là pháo mà trong đó đặc biệt nhất là “vua chiến trường” 175 li... Thế mà khi tỉnh Quảng Trị được tái lập (7-1989) mọi thứ đã gần như sạch bóng trên đất này.

2. Khó khăn thứ hai mà cũng là một thử thách về tư duy chỉ đạo đối với những người quản lý văn hoá Quảng Trị là mối quan hệ đầu tư trong việc tôn tạo di tích với xây dựng Bảo tàng.

Chiến tranh đi qua để lại trên mảnh đất này hàng loạt di tích nổi tiếng như Đôi bờ cầu Hiền Lương, địa đạo Vịnh Mốc, Thành cổ Quảng Trị, Khe Sanh - Tà Cơn, hàng rào điện tử Mc. Namara... Rất nhiều người đã nói cả Quảng Trị là một Bảo tàng sống. Tuy nhiên như đã nói ở trên, do những yếu tố khách quan và chủ quan mà cái “Bảo tàng sống” đó đang đứng trước nguy cơ “chết” lịm. Hầu hết các di tích khổng lồ đã trở thành phế tích, thậm chí có nơi chỉ còn là dấu tích. Trong điều kiện khó khăn của một địa phương rất nghèo, lại vừa mới được tái lập thì ưu tiên số một trong sự nghiệp Bảo tồn di sản văn hoá chính là nhiệm vụ tôn tạo các di tích, nhất là các di tích đặc biệt quan trọng và đang đứng trước nguy cơ bị biến mất. Việc xây dựng Bảo tàng tỉnh đành lùi xuống vị trí thứ hai. Xác định ưu tiên như vậy là đúng và trúng. Nhưng khi bắt tay vào công cuộc tôn tạo di tích chiến tranh cách mạng thì một thách thức mới được đặt ra là phải làm gì ở các di tích khi mà hiện vật gốc của các di tích không còn hoặc còn rất ít. Như đã dẫn chứng ở phần đầu, di tích Đôi bờ Hiền Lương Bến Hải, cái dấu tích gốc chỉ còn là dòng sông và vết mố cầu của chiếc cầu chia cắt năm 1954? Hay toàn bộ khu di tích Thành cổ rộng 20 ha là một khu đất phủ trùm cỏ lau. Sân bay Tà Cơn thậm chí không thể xác nhận được địa chỉ chính xác. Trước tình hình đó, ở hầu hết các di tích, chúng tôi lựa chọn phương án, bên cạnh một số công trình tôn tạo, tái hiện và tôn vinh thì rất cần có một nhà trưng bày bổ sung. Chỉ bằng cách đó mới có thể chuyển tải được những giá trị tổng quát và tiêu biểu của di tích đó.

Và thế là một loạt các nhà trưng bày bổ sung đã mọc lên ở nhiều khu di tích, rất nhiều hiện vật quý hiếm sưu tầm được liên quan đến sự tích của các di tích đã được trưng bày giới thiệu ngay tại cái gốc sinh ra nó đã góp phần đắc lực trong việc giới thiệu các giá trị tiêu biểu của di tích nhưng đồng thời lại gây ra sự tranh chấp và thử thách nặng nề khi xây dựng đề cương trưng bày ở Bảo tàng tỉnh. Bài toán đặt ra là làm sao để cân đối giữa “Bảo tàng mẹ” với các “Bảo tàng con” vừa không cái nào bị giảm giá trị vừa không gây ra sự lặp lại, nhàm chán.

Vượt qua tất cả những thử thách đó cùng với những khó khăn của sự hạn chế kinh phí đầu tư của một tỉnh nghèo, những người làm công tác văn hoá nói chung, những cán bộ Bảo tàng, di tích Quảng Trị nói riêng đã tập trung trí tuệ và sức lực, suy nghĩ và lựa chọn một cách đi, một cách làm Bảo tàng vừa cố gắng đảm bảo cái nhìn tương đối toàn diện về lịch sử địa phương, vừa tạo ra những vết đậm có tính chuyên đề đặc sắc, vừa thống nhất lại vừa có tính đặc thù giữa Bảo tàng với các nhà trưng bày bổ sung ở các di tích trọng điểm. Một cố gắng nữa trong tư duy của chúng tôi là làm sao Bảo tàng Quảng Trị vừa đảm bảo được ngôn ngữ Bảo tàng truyền thống - đó là nơi lưu giữ và giới thiệu hệ thống các bộ sưu tập hiện vật gốc liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển của địa phương - vừa mở rộng ngôn ngữ và loại hình biểu cảm đa thanh, đa chiều, nhất là ngôn ngữ truyền thông - triển lãm một cách hài hoà, và trong điều kiện có thể, cố gắng ứng dụng một số công nghệ hiện đại để làm sao tạo được niềm hứng khởi của khách tham quan, nhất là đối với thế hệ trẻ.

Sau bao nhiêu cố gắng của toàn tỉnh, Bảo tàng Quảng Trị đã ra đời. Nhiều ý tưởng, mong muốn, ấp ủ giờ đã phần nào thể hiện được. Hội đồng nghiệm thu gồm nhiều chuyên gia hàng đầu về Bảo tàng học của quốc gia đã đánh giá Bảo tàng Quảng Trị là một Bảo tàng có chất lượng và hiệu quả trưng bày cao ở cấp độ một Bảo tàng địa phương. Tuy nhiên không phải tất cả đã toại nguyện. Phần trưng bày ngoài trời rất chật chội, không những chưa đảm bảo các nội dung trưng bày của hiện vật thể khối mà việc tạo ra một không gian văn hoá đẹp cũng bị hạn chế. Hiện tại, Bảo tàng Quảng Trị chưa thể thực hiện được nhiệm vụ tạo nguồn thu từ hoạt động để góp phần cải thiện sự hạn hẹp của ngân sách vì không gian Bảo tàng không có được những yếu tố có thể giúp đơn vị tạo thêm các sinh hoạt mang tính dịch vụ văn hoá.

Hy vọng trong thời gian tới, lãnh đạo tỉnh cũng như các ngành hữu quan tạo điều kiện đầu tư thêm để Bảo tàng trở thành một thiết chế văn hoá tiêu biểu đủ sức đảm trách sứ mạng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá của một mảnh đất anh hùng, góp phần vào công cuộc đổi mới, đưa Quảng Trị phát triển, hội nhập, cùng cả nước xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

TÁC GIẢ: XUÂN ĐỨC​

 

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
NGHỀ CHẺ ĐÁ Ở VÙNG TÂY GIO LINH (5/11/2018)
VỀ NHÓM HIỆN VẬT "HỦ GẠO TIẾT KIỆM" TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (5/9/2018)
ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (16/8/2018)
VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYÊN HƯỚNG DẪN VÀ GIỚI THIỆU KHÁCH THAM QUAN TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (14/8/2018)
(6/8/2018)
DI TÍCH VĂN HÓA CHĂM PA Ở QUẢNG TRỊ - NHÌN TỪ NHỮNG HUYỀN TÍCH ĐÃ ĐƯỢC VIỆT HOÁ (25/7/2018)
MỘT SỐ PHÁT HIỆN MỚI VỀ KHU CÔNG XƯỞNG CHẾ TÁC CÔNG CỤ ĐÁ CỦA NGƯỜI NGUYÊN THUỶ Ở XÃ HƯỚNG LẬP, HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ. (21/6/2018)
THƯỢNG THƯ LÊ TRINH - MỘT ĐẠI THẦN TRIỀU NGUYỄN CÓ TÌNH CẢM VỚI QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC (4/6/2018)
VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ. (4/6/2018)


Thiết kế bởi: Công ty TNHH MTV Xa Lộ Thượng mại