08 - Nguyễn Huệ Thành Phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
02333.556.135baotangtinhqt@gmail.com
  • Tổ hợp trưng bày Bom
  • Súng Thần công
  • Bức phù điêu Lá Nhĩ (tympan) Trà Liên 2
ẤN PHẨM, BÀI VIẾT

BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ 20 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH


Ngày cập nhật: 10/07/2018 00:00:00

Bảo tàng Quảng Trị là cơ quan hành chính sự nghiệp, thuộc loại hình sở hữu nhà nước; một thiết chế văn hoá thực hiện chức năng nghiên cứu, giáo dục, đáp ứng nhu cầu tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân thông qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền và phát huy tác dụng các di sản văn hóa trên vùng đất Quảng Trị.

Trước năm 1998, Bảo tàng Quảng Trị thực hiện đồng thời hai mảng hoạt động: Bảo tồn (quản lý  di tích bất động sản) và Bảo tàng (quản lý di tích động sản). Sau tháng 10-1998, khi BQL di tích và danh thắng tỉnh (nay là Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng Quảng Trị) được thành lập (trên cơ sở Phòng Quản lý Di tích của Bảo tàng) để đảm trách phần hoạt động của công tác bảo tồn di tích thì Bảo tàng chỉ tập trung thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, giáo dục khoa học về di sản văn hóa (cả vật thể lẫn phi vật thể) và thực hiện việc quản lý, sử dụng, phát huy các giá trị di tích tích động sản (hiện vật Bảo tàng).

Năm 1989, khi mới thành lập, bộ máy tổ chức của Bảo tàng chỉ có 8 người vốn từ Bảo tàng Bình Trị Thiên và Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế chia ra. Những năm của thập niên 90, lực lượng cán bộ của Bảo tàng được bổ sung dần với một đội ngũ cán bộ trẻ, được đào tạo một cách khá bài bản từ các trường đại học. Qua nhiều biến động về tổ chức, nhân sự, người đi, kẻ ở, đến nay (7-2009), đơn vị hiện có 23 cán bộ, công chức, viên chức (trong đó có 19 cán bộ trong biên chế, 3 cán bộ hợp đồng dài hạn (theo NĐ68) và 1 hợp đồng vụ việc. Cán bộ Bảo tàng là những người chuyên môn có trình độ, năng lực và có tâm huyết với nghề nghiệp (4,34% trên Ðại học (1 người), 73,91% Ðại học, Cao đẳng (17 người) và 21,73% trung cấp và phổ thông (5 người), đã và đang đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp.

Bộ máy tổ chức của Bảo tàng trước năm 1994 chỉ bao gồm 1 giám đốc và 2 phòng chức năng là: Tổ chức hành chính và Nghiệp vụ. Sau tháng 4-1994 đến trước tháng 10-1998, bộ máy bắt đầu hoàn thiện dần với cơ cấu gồm: Ban Giám đốc và 3 phòng chức năng là: Tổ chức hành chính - Quản lý di tích - Bảo tàng. Từ sau tháng 10-1998, bộ máy Bảo tàng được cơ cấu gồm: Ban Giám đốc và 4 phòng chức năng là: Tổ chức Hành chính - Nghiên cứu, Sưu tầm, Trưng bày - Kiểm kê Bảo quản - Thuyết minh, Hướng dẫn. Ngoài ra còn có Hội đồng Khoa học Bảo tàng với các thành viên trong và ngoài đơn vị làm nhiệm vụ tham mưu cho BGĐ về các vấn đề khoa học liên quan đến chuyên môn bảo tàng.

Tháng 6-2004, Bảo tàng chính thức chuyển về trụ sở  mới sau hơn 4 năm đầu tư xây dựng (khởi công ngày 22-1-2000), nhưng hành trình đến “miền đất hứa” của Bảo tàng là một chặng đường “du mục” đầy gian nan, vất vã mà ít có một cơ quan nhà nước nào có được. Gần 15 năm (1989 - 2004), trụ sở làm việc và kho tàng của Bảo tàng Quảng Trị đã qua 5 lần di chuyển địa điểm (2 lần ở thị xã Quảng Trị (từ tháng 7-1989 đến tháng 7-1992) và 3 lần ở thị xã Đông Hà (từ tháng 8-1989 đến tháng 5-2004) với đủ mọi hình thức: ở nhờ, thuê mướn, người một nơi, tài sản một nẻo. Mặc dù vậy, bằng tất cả lòng yêu nghề, tinh thần vượt khó, các cán bộ Bảo tàng Quảng Trị đã dốc hết tâm lực, trí lực, kiên trì, bền bỉ chịu đựng, vượt qua thử thách và ngày càng trưởng thành, đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp VH-TT của tỉnh.

Năm 1989, từ Bảo tàng Bình Trị Thiên chia ra, Bảo tàng Quảng Trị chỉ có 830 hiện vật gốc, 266 hiện vật phim ảnh và 300 tài liệu, hiện vật khác còn  trong chế độ “bảo quản tạm thời”. Ðến nay (8-2009) đã lên đến 29.085 hiện vật gốc (trong đó có: 19.085 hiện vật đồ kim loại, 1.920 hiện vật đồ đá, 1.711 hiện vật đồ xương, 3.621 hiện vật đồ gốm sứ, 689 hiện vật đồ mộc, 441 hiện vật đồ dệt, 555 hiện vật đồ giấy, 285 hiện vật đồ nhựa và 397 hiện vật thuộc các chất liệu khác); gần 3.000 tài liệu phim ảnh đã được đăng ký, kiểm kê, hoàn chỉnh hồ sơ khoa học và pháp lý, cùng với một hệ thống kho bảo quản với các thiết bị dù chưa thể coi là hiện đại nhưng đã phần nào đáp ứng được yêu cầu bảo quản. Con số này tuy chưa lớn so với gia tài di sản văn hoá của một tỉnh nhưng lại là số liệu đáng trân trọng thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của cán bộ sưu tầm và bảo quản của Bảo tàng Quảng Trị.

Trên cơ sở này, nhiều bộ sưu tập cổ vật, hiện vật Bảo tàng có giá trị đã được xây dựng như: sưu tập tiền cổ; sưu tập bình vôi; sưu tập các tác phẩm điêu khắc đá Chămpa; sưu tập công cụ đá thời tiền sử và sơ sử; sưu tập hiện vật đồ đồng Đông Sơn; sưu tập công cụ và đồ dùng của người Vân Kiều, Tà Ôi... Có 5 cổ vật quý hiếm của tỉnh đã được lập hồ sơ đề nghị Bộ VH-TT công nhận bảo vật quốc gia.

Những hiện vật Bảo tàng tại các cơ sở di tích, các phòng VH-TT cũng đã được lập danh mục để theo dõi và đặt dưới sự quản lý nhà nước của Bảo tàng.

Trong các năm 2002 - 2009, Bảo tàng đã tiến hành các đợt tổng điều tra, kiểm kê di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn huyện Hải Lăng (2002), Triệu Phong (2003), thị xã Quảng Trị (2003), Cam Lộ (2008) thị xã Đông Hà (2008 - 2009), Do Linh (2009), đưa vào danh mục quản lý 2.205 hiện vật (1.325 di vật, 878 cổ vật, 2 bảo vật quốc gia).

- Hải Lăng: 1.116 hiện vật (724 di vật, 391 cổ vật, 1 bảo vật quốc gia).

- Triệu Phong: 496 hiện vật (327 di vật, 168 cổ vật, 1 bảo vật quốc gia).

- Thị xã Quảng Trị: 4 hiện vật (4 di vật).

- Thị xã Đông Hà: 103 hiện vật (68 di vật, 35 cổ vật).

- Cam Lộ: 265 hiện vật (116 di vật, 149 cổ vật).

- Do Linh: 221 hiện vật (86 di vật, 135 cổ vật).

Đây có thể được coi là một bước đột phá mới trong công tác đăng ký, kiểm kê di sản văn hoá theo tinh thần của Luật Di sản văn hoá mà Bảo tàng Quảng Trị là một đơn vị thực hiện đầu tiên trong hệ thống Bảo tàng tỉnh trên toàn quốc. Công việc này đã tạo cơ sở cho chính quyền các địa phương thực hiện tốt hơn việc quản lý trực tiếp đối với các di vật, cổ vật. Riêng đối với những di vât, cổ vật hiện có trong nhân dân ở các địa phương và tại các nhà sưu tập tư nhân mới chỉ dừng lại ở mức độ điều tra chứ chưa thực hiện được các biện pháp quản lý chặt chẽ. Nạn buôn bán, đào bới trái phép cổ vật vẫn đang là vấn đề nhức nhối.

Công tác đăng ký, kiểm kê, bảo quản hiện vật đã được từng bước khoa học hóa, đúng quy trình.... Từng bước áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào công tác đăng ký, bảo quản hiện vật, tài liệu; nhất là lưu trữ, bảo quản phim, ảnh. Đã lập trình được 2 phần mềm để ứng dụng vào quản lý tài liệu riêng có của Bảo tàng Quảng Trị. Đây cũng chính là 2 công trình nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Quảng Trị trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động bảo tàng. Năm 2003, lần đầu tiên, Bảo tàng Quảng Trị tiến hành tổng điều tra di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và đã lập trình riêng một phần mềm để quản lý nội dung này. Năm 2008, lập trình được phần mềm quản lý phim ảnh tại kho Bảo tàng, giúp cho việc lưu trữ, bảo quản và khai thác tài liệu phim ảnh được nhanh chóng, thuận lợi.

Trong những năm từ 1992 đến nay, bằng nguồn lực tại chỗ cùng với sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nhà  nghiên cứu, các cơ quan nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, nhiều đợt nghiên cứu, thăm dò, điều tra, khảo sát, phát hiện về các vấn đề khảo cổ, lịch sử và văn hoá đã được tiến hành tại nhiều nơi trên địa bàn Quảng Trị. Kết quả các đợt nghiên cứu này không chỉ khám phá ra được nhiều điều mới mẻ, lý thú về lịch sử, văn hóa vùng đất Quảng Trị qua các thời kỳ mà còn sưu tầm để đưa về Bảo tàng hàng ngàn hiện vật qúi, hiếm. Nhờ đó đã xây dựng được nhiều bộ sưu tập cổ vật, hiện vật Bảo tàng có giá trị.

Hoạt động nghiên cứu khoa học về lịch sử, văn hóa vùng đất Quảng Trị đã được chú trọng. Từ  năm 1991 đến nay, đã có 15 đề tài nghiên cứu  được thực hiện, trong đó nổi bật như: “Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị” - công trình đã được xuất bản và tái bản thành sách, từng đạt giải ba của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (3-1996); “Văn hóa Chămpa ở Quảng Trị - Di tích và huyền thoại” (1998 - 2000), "Giáo dục Quảng Trị trước năm 1945", (2002) “Ðình làng Quảng Trị”, “Các ngôi chùa cổ Quảng Trị”, (2002), “Tục thờ Thành Hoàng của người Việt Quảng Trị” (2003), “Sưu tập tiền cổ bằng đồng của Việt Nam và Trung Quốc phát hiện tại Quảng Trị”, “Sưu tập các công cụ đá thời tiền sử và sơ sử phát hiện tại Quảng Trị”, “Sưu tập các tác phẩm điêu khắc đá Chămpa ở Quảng Trị” (2003), “Kiến trúc dân gian người Việt Quảng Trị” (2004), “Ðề án trưng bày Bảo tàng Quảng Trị” (2000 - 2005), “Thạch Hãn giang - những dấu ấn lịch sử, văn hoá”, “Đường 9 - từ quá khứ đến hiện tại” (2007 - 2008)... Ngoài ra, Bảo tàng cũng thường xuyên giúp đỡ cho các địa phương trong việc biên soạn địa chí, lịch sử; sưu tra, dịch thuật, nhân sao các tài liệu Hán nôm như: gia phả, địa bạ, sắc phong...; tìm hiểu nguồn gốc, lai lịch của các làng, họ; xác định, thẩm định và làm sáng tỏ những vấn đề về lịch sử, văn hoá cho các địa phương.

Trong các năm 1991 - 1993 Bảo tàng đã thực hiện một đợt tổng điều tra, kiểm kê di tích toàn tỉnh, thống kê và hoàn chỉnh hồ sơ cho 389 di tích theo từng huyện thị. Kết quả này đã tạo điều kiện cho tập sách "Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị" ra đời. Trong thời điểm ấy, Quảng Trị được coi là tỉnh đầu tiên trong cả nước hoàn thành công tác kiểm kê di tích. Từ danh mục kiểm kê này, UBND tỉnh đã ra quyết định công nhận 343 di tích và phân cấp quản lý theo 3 cấp: cấp tỉnh 12 di tích, cấp huyện thị 119 di tích, cấp xã phường 234 di tích.

Công tác nghiên cứu, lập hồ sơ xếp hạng di tích quốc gia được chú trọng. Trước khi tách hoạt động quản lý di tích ra khỏi Bảo tàng (1999), phòng Quản lý di tích của Bảo tàng đã thực hiện 10 hồ sơ công nhận di tích quốc gia, nâng tổng số di tích công nhận toàn tỉnh lên 17 di tích với 24 địa điểm.

Hoạt động tôn tạo di tích ngày càng giữ một vị thế  chủ đạo. Những năm trước và sau khi tách tỉnh, do những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt cùng nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan từ phía cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương các cấp nên chưa có gì đáng kể. Từ năm 1996, thực hiện dự án về "Qui hoạch, đầu tư, tôn tạo hệ thống di tích lịch sử văn hóa Quảng Trị (1996 - 2010)" của Chính phủ và các dự án đầu tư tôn tạo di tích bằng các nguồn vốn của Bộ VH-TT, của tỉnh Quảng Trị và nhiều nguồn khác, hoạt động tôn tạo di tích đã chuyển sang một bước ngoặt mới, làm cho bộ mặt di tích thực sự khởi sắc. Các di tích như: Thành cổ Quảng Trị, Ðịa đạo Vịnh Mốc, Ðôi bờ cầu Hiền Lương, Sân bay Tà Cơn, Nhà tù Lao Bảo... đã dần dần khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống di tích quốc gia, trở thành các điểm tham quan du lịch kỳ thú và hấp dẫn của Quảng Trị; tạo đà cho những thành tựu về tôn tạo di tích những năm sau này. 

Trong hoạt động trưng bày, tuyên truyền, đã xây dựng được một số nhà trưng bày tại các cơ sở di tích quan trọng (như: Địa đạo Vịnh Mốc, Khu trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN, Thành cổ Quảng Trị, Khu lưu niệm Cố TBT Lê Duẩn, nhà trưng bày Vĩ tuyến 17 và khát vọng thống nhất ở di tích đôi bờ cầu Hiền Lương) với nội dung tốt, hấp dẫn, có sức thu hút và đang phát huy một cách hiệu quả trong việc giáo dục truyền thống và khai thác du lịch. Bên cạnh đó, Bảo tàng Quảng Trị đã tổ chức nhiều cuộc trưng bày lưu động, trưng bày chuyên đề trong và ngoài tỉnh vào các dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của tỉnh và của đất nước (như: Chuyên đề “Quảng Trị năm 1972” (1992); “54 năm đồng bào hai dân tộc Vân Kiều - Pa Cô mang họ Bác Hồ” (2000); “Vĩ tuyến 17 - Những dấu ấn về tội ác chiến tranh (2001); Quảng Trị - Những dấu ấn lịch sử của thế kỷ XX (2002)... thu hút hàng ngàn lượt người và đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng khách tham quan, làm sống dậy những kỷ niệm khó quên về một thời oanh liệt hào hùng, tăng thêm niềm tự hào về quá khứ của quê hương, của dân tộc, tạo được niềm tin và khí thế vươn lên trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Không những thế, các cán bộ nghiệp vụ Bảo tàng cũng đã đảm nhận việc trưng bày cho các Bảo tàng huyện (Hải Lăng), nhà truyền thống phường xã (Đông Giang). Ngoài ra, trong 2 năm 2007 - 2008, Bảo tàng Quảng Trị đã phối hợp với các nhà sưu tập tư nhân và Hội Di sản Văn hoá Quảng Trị tổ chức được 2 cuộc trưng bày sưu tập cổ vật. Nhờ đó, khích lệ các nhà sưu tập tư nhân tham gia vào hoạt động của Bảo tàng và bảo tồn di sản văn hoá. Hàng ngàn hiện vật không kém phầm quý hiếm đã được các nhà sưu tập tư nhân sưu tầm, xây dựng và bảo quản tốt. Một số sưu tập cổ vật thuộc sở hữu tư nhân được xây dựng không chỉ có giá trị cao về lịch sử, văn hóa, khoa học mà còn tạo được các điều kiện cần và đủ để có thể hình thành các bảo tàng tư nhân trong nay mai.

Đặc biệt, từ năm 2005, khi công trình Bảo tàng Quảng Trị cơ bản hoàn thành và đề án trưng bày nội, ngoại thất đã được các cấp chính quyền phê duyệt, Bảo tàng Quảng Trị đã nổ lực phối kết hợp với các đơn vị liên quan, chuẩn bị tốt các điều kiện về nội dung và triển khai thực hiện trưng bày một cách có hiệu quả để đưa hệ thống trưng bày của Bảo tàng vào khai thác, sử dụng, phục vụ nhu cầu tham quan, học tập và hưởng thụ văn hoá của nhân dân.

Sau một thời gian khá dài chuẩn bị, từ việc nghiên cứu, sưu tầm tài liệu hiện vật, biên soạn đề cương, tư duy, trăn trở về ý đồ giải pháp đến suy nghĩ các phương án thiết kế mỹ thuật, các giải pháp thi công..., ngày 1-5-2007, công trình Bảo tàng Quảng Trị đã hoàn thành để mở cửa đón khách tham quan. Đây là sản phẩm công lao, trí tuệ của một tập thể các cá nhân, đơn vị thuộc ngành VH-TT, mà trước hết là sự cố gắng nỗ lực vượt bậc của các cán bộ chuyên môn Bảo tàng cùng với sự góp sức của nhiều công ty, nhà thầu, đơn vị thi công; trong đó điển hình là công ty Mỹ thuật Hà Nội đã tham gia trong quá trình xây dựng Bảo tàng.

Với 2.350m2 trưng bày, được bố trí ở hai tầng và chia thành 3 phần nội dung lớn là: Tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên - Văn hoá các dân tộc và Lịch sử xã hội; được cơ cấu theo 16 chuyên đề và được thể hiện thông qua gần 5.000 tài liệu hiện vật gốc, gần 1.000 tài liệu ảnh cùng hàng chục tổ hợp không gian hình tượng, tác phẩm nghệ thuật và nhiều tài liệu khoa học phụ khác; hệ thống trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị là hệ thống trưng bày của một bảo tàng tổng hợp được thể hiện bằng việc đem kết quả nghiên cứu khoa học chuyên ngành, liên ngành để thực hiện chức năng phổ biến, giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, lòng tự hào dân tộc, thế giới quan khoa học và phục vụ nhu cầu thưởng thức đối với mọi đối tượng nhân dân; tạo ra một điểm tham quan mới sống động và hấp dẫn trong tuyến du lịch Quảng Trị và miền Trung.

Với những cố gắng vượt bậc trong suốt 20 năm qua, Bảo tàng Quảng Trị đã được UBND tỉnh, Sở VHTT tặng nhiều bằng khen và giấy khen. Nhiều cá nhân của đơn vị đã được Bộ VHTT, UBND tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Sở VHTT tặng huy chương “Vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hoá”, huy chương “Vì sự nghiệp công đoàn”, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua”, nhiều bằng khen, giấy khen về những đóng góp cho sự nghiệp và thành tích công tác.

Chi bộ Bảo tàng nhiều năm đạt danh hiệu chi bộ “Trong sạch, vững mạnh”; công tác phát triển Đảng đã được quan tâm đúng mức, nhiều công chức ưu tú đã được đứng vào hàng ngũ của Đảng, giúp cho chi bộ ngày càng lớn mạnh. Tổ chức Đoàn Thanh niên luôn được duy trì và có nhiều hoạt động thiết thực.

Công đoàn cơ sở Bảo tàng đã phát huy cao vai trò là một tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động; chú trọng việc chăm lo cải thiện điều kiện vật chất và tinh thần cho cán bộ. Ban Chấp hành công đoàn ngày càng được trẻ hoá và tổ chức được nhiều phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao sôi nổi, đem lại nguồn sinh khí mới cho đơn vị. Đặc biệt, nhiều hoạt động của công đoàn cơ sở Bảo tàng được tổ chức khá sớm và trở thành điển hình đáng trân trọng trong toàn ngành như: hoạt động khuyến học, gặp mặt đầu năm, tổ chức sinh nhật… Những hoạt động này đã mang lại những ý nghĩa nhân văn cao cả, tạo ra được mối cộng cảm cộng đồng trong một môi trường văn hoá tốt đẹp, cùng sẻ chia, vun vén tài năng, phát triển nhân lực. 

Nhìn lại sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa trên vùng đất Quảng Trị trong thời gian qua, có thể thấy rằng dù những thành tựu đạt được tuy chưa nhiều, chưa toàn diện nhưng đã phản ánh được những cố gắng vượt bậc của các thế hệ những người làm công tác Bảo tàng trên địa bàn Quảng Trị. Trong xu thế tiếp tục đổi mới và hội nhập hiện nay, đòi hỏi mỗi một cán bộ Bảo tàng càng phải chuyên nghiệp hoá, phải nỗ lực hơn nữa mới mong có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp.

Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá là nhiệm vụ của toàn dân, là trách nhiệm của mọi người, mọi cấp, mọi ngành và mọi thời đại. Bảo tàng Quảng Trị đã, đang và sẽ là nhịp cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên hành trình di sản văn hoá Quảng Trị. 

TRÍCH: 20 NĂM BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ của Tác giả: Lê Đức Thọ

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
NGHỀ CHẺ ĐÁ Ở VÙNG TÂY GIO LINH (5/11/2018)
VỀ NHÓM HIỆN VẬT "HỦ GẠO TIẾT KIỆM" TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (5/9/2018)
ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (16/8/2018)
VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYÊN HƯỚNG DẪN VÀ GIỚI THIỆU KHÁCH THAM QUAN TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (14/8/2018)
(6/8/2018)
DI TÍCH VĂN HÓA CHĂM PA Ở QUẢNG TRỊ - NHÌN TỪ NHỮNG HUYỀN TÍCH ĐÃ ĐƯỢC VIỆT HOÁ (25/7/2018)
MỘT SỐ PHÁT HIỆN MỚI VỀ KHU CÔNG XƯỞNG CHẾ TÁC CÔNG CỤ ĐÁ CỦA NGƯỜI NGUYÊN THUỶ Ở XÃ HƯỚNG LẬP, HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ. (21/6/2018)
THƯỢNG THƯ LÊ TRINH - MỘT ĐẠI THẦN TRIỀU NGUYỄN CÓ TÌNH CẢM VỚI QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC (4/6/2018)
VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ. (4/6/2018)


Thiết kế bởi: Công ty TNHH MTV Xa Lộ Thượng mại