08 - Nguyễn Huệ Thành Phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
02333.556.135baotangtinhqt@gmail.com
  • Tổ hợp trưng bày Bom
  • Súng Thần công
  • Bức phù điêu Lá Nhĩ (tympan) Trà Liên 2
ẤN PHẨM, BÀI VIẾT

NGHỀ CHẺ ĐÁ Ở VÙNG TÂY GIO LINH


Ngày cập nhật: 05/11/2018 00:00:00

Vùng tây Gio Linh với địa hình là những đồi đất đỏ bazan dạng bán bình nguyên được người dân địa phương gọi là xứ Cồn Tiên. Với lợi thế là vùng đất đỏ bazan nên đất đai khá màu mỡ, thích ứng với các loại cây công nghiệp. Vì thế, vùng này từ xưa đã nổi  tiếng với các loại đặc sản như hồ tiêu, dầu trẩu, dầu sơn... Kiến tạo địa chất vùng tây Gio Linh còn để lại trong lòng đất và trên bề mặt một khối lượng đá cuội bazan dày đặc và trở thành một loại tài nguyên khoáng sản được thiên nhiên ban tặng để các lớp cư dân sinh sống trên vùng đất này triệt để khai thác, phục vụ đắc lực trong đời sống dân sinh từ bao đời nay.

Đá không chỉ nằm lộ thiên trên mặt đất, đào xuống sâu hàng chục mét dưới lòng đất cũng gặp đá cuội, đá nằm chồng chất lên nhau thành từng mỏ với những viên đá đủ kích cỡ, có màu xám xịt. Chất lượng mỏ đá ở vùng tây Gio Linh không nơi nào bằng, đá chắc, mịn, rất tốt. Từ nguồn nguyên liệu sẵn có, nghề đẽo đá và xẻ đá ra đời. Qua quá trình lao động chế tác đã đúc kết lại những kinh nghiệm của những người đi trước. Đôi bàn tay khéo léo của người thợ xẻ đá đã tạo ra sản phẩm quý giá đa dạng nhiều loại hình tiêu biểu để phục vụ nhu cầu xây dựng, đời sống sinh hoạt, tâm linh tín ngưỡng nhằm tăng thêm nguồn thu nhập cũng từ đó đã trở thành một nghề thủ công nổi tiếng của vùng này.

Trước và trong thời Chămpa, nhóm cư dân tiền trú trên vùng đất này đã biết khai thác, tận dụng loại đá cuội bazan vào việc xây dựng nên những công trình thủy lợi bằng đá xếp và để lại những dấu tích về di sản của một nền văn minh cự thạch tồn tại cho đến nay. Nhiều thế kỷ trước, người Việt vùng này có nghề đẽo đá để làm nên các loại sản phẩm như: cối giã bằng đá, cối xay bột bằng đá, đá táng kê chân cột trong các công trình kiến trúc gỗ, các cột mốc bằng đá định ranh giới đất đai... Trong bài đồng dao vùng Gio Linh từ xưa đã có câu: “Hò khoan Mai Xá, đẽo đá Hão Sơn” là để nói về một làng vùng tây Gio Linh vốn có nghề đẽo đá là thế. Từ những thập niên 80 của thế kỷ XX, một mặt do các máy móc thay dần các công cụ chế biến nông sản, nhà cửa làm bằng khung gỗ dần vắng bóng, nhưng mặt khác nhu cầu sử dụng đá vào các công trình xây dựng càng ngày càng gia tăng nên nghề đẽo đá chuyển dần sang nghề chẻ đá để đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngày nay, nghề chẻ đá đang là một nghề thu hút một số lượng lớn lao động và giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của người dân các xã vùng tây Gio Linh.

1. Đôi nét về địa lý hành chính vùng tây Gio Linh

Vùng tây Gio Linh xưa thuộc tổng Bái Trời/Phái Trời/Bái Ân. Những làng Việt vùng này hình thành khá muộn so với nhiều nơi ở vùng đồng bằng. Năm 1572, sau khi đánh thắng quân nhà Mạc ở Ái Tử, Nguyễn Hoàng đã đưa số tù binh bắt được lên vùng Cồn Tiên để xây dựng kinh tế điền trang/đồn điền, trồng hồ tiêu, dầu sơn, dầu trẩu để xuất khẩu, lập nên 36 phường. Theo sách Phủ biên Tạp lục thì dưới thời Nguyễn tổng Bái Ân chỉ có 20 phường; bao gồm: Tân An, An Hướng, Trung An, An Định, Cảnh Sơn, Long sơn, Gia Định, An Khê, Phú Ốc, Thượng Nhậm, Khang Xá, Phú Vinh, An Định Nha, An Phúc, Khang Xá, Nam Dương, Bình An, Phú Xuân, Khe Sông, An Lộc 1. Từ năm 1681, khi Chúa Nguyễn cho đào lại sông Kênh Hàm/Cánh Hòm và mở cảng Mai Xá để thông thương với xứ Cồn Tiên, để giải quyết áp lực dân số và đất đai ở vùng đồng bằng và khai thác tiềm năng cò bỏ ngõ của vùng đồi phía tây, một bộ phận dân cư ở làng Mai Xá (Gio Mai ngày nay) đã di dân lên vùng Cồn Tiên để làm ăn sinh sống, lập nên 8 phường gọi là “Bát phường Mai Xá” (gồm: Bình An (Gio Bình ngày nay), Phú Thọ, Ninh Xá, Phú Ốc (Gio Hòa ngày nay), Lịch Sơn, Phú Nhuận, Nam Dương (Gio Sơn ngày nay), Trung An (Gio An ngày nay). Những thế kỷ sau đó, các nhóm dân Việt vùng đồng bằng tiếp tục di cư lên vùng phía tây để thiết lập nên một hệ thống làng mạc ngày càng đông đúc.

Trước năm 1975, vùng tây Gio Linh chỉ bao gồm 2 xã là Gio An (gồm các thôn: An Nha, Hướng Thanh, Hảo An, Bình Xuân, Xuân Hoà, Phường Xuân, Long Trung Sơn, Tân Văn, Tân Lịch, Tân Hà) và Gio Sơn (gồm các thôn: Nam Phú, Vạn Xá, Lạc Sơn, Tân Xuyên, Phú Ngạn, Phú Dương, Nam Tân, An Hà, Tân Hoà, Bái Ân, Trung An, Phường Phú, Ninh Phú).

Từ sau năm 1975, theo chính sách “kinh tế mới” của Nhà nước để di dân, dãn dân vùng đồng bằng, một bộ phận rất đông cư dân vùng đông Gio Linh và vùng đồng bằng Hải Lăng đã di cư lên làm ăn, sinh sống để hình thành nên các đơn vị hành chính mới. Bộ phận dân Gio Linh từ các làng Nhĩ Trung, Tân Minh, Nhĩ Hạ, làng Cát Sơn, Thủy Bạn, Nhĩ Thượng, An Mỹ, Hoàng Hà đi kinh tế mới hình thành nên các làng Đại Hòa, Đồng Hòa, Tâm Hòa, Nhất Hòa, Trí Hòa, Tiến Hòa (theo câu khẩu hiệu: ĐẠI ĐỒNG TÂM NHẤT TRÍ TIẾN). Bộ phận dân các làng thuộc xã Gio Mai, Trung Hải, Vĩnh Kim (của huyện Vĩnh Linh) đi kinh tế mới lập nên các làng Bình Minh, Bình Long, Bình Kim, Bình Tiến (nay là Tiến Kim), Bình Mai, Bình Xuân (nay là Xuân Mai) và Bình Hải. Cư dân Hải Lăng đi kinh tế mới lập nên các làng Thiện Nhân, Thiện Ðức, Thượng Xuân, Xuân Tây, Hải Lâm, Hải Ba, Hải Tân, Quế Hoà Thi.

Ngày 9-3-1992, theo Quyết định số 117-TCCP của Bộ trưởng Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, chia xã Gio An thành 2 xã mới là Gio An (gồm các thôn Tân Văn, Hảo Sơn, An Nha, An Hướng, Long Sơn, Gia Bình) và Gio Bình (gồm các thôn Bình Hải, Bình Long, Bình Minh, Tiến Kim, Xuân Mai, Tân Hà, Tân Lịch, Tân An); chia xã Gio Sơn thành 3 xã: Gio Sơn (gồm các thôn: An Khê, Nam Tây, Phú Ốc, Nam Ðông, Lạc Sơn), Gio Hoà (gồm các thôn: Tiến Hoà, Trí Hoà, Ðông Hoà, Ðại Tâm, Nhất Hoà, Bình Minh) và Linh Hải (gồm các thôn: Hải Bình, Thiện Nhân, Thiện Ðức, Thượng Xuân, Xuân Tây, Hải Lâm, Hải Ba, Hải Tân, Quế Hoà Thi) 1.

Vùng tây Gio Linh (trong không gian cư trú của người Việt thuộc xứ Cồn Tiên) nay là địa bàn bao gồm các xã Gio An, Gio Sơn, Gio Bình, Gio Hòa, Linh Hải, Hải Thái.

Người dân của các xã này chủ yếu trồng cây công nghiệp, buôn bán nhỏ lẻ và làm nghề chẻ đá. Trừ các làng Việt gốc của Gio An, Gio Sơn được hình thành từ trước, các làng thuộc các xã Gio Bình, Gio Hòa, Linh Hải, Hải Thái do định cư từ sau năm 1975 nên các thiết chế văn hóa truyền thống đều không có. Với tâm thức: ly hương bất ly tổ nên về mặt tín ngưỡng, tâm linh và những truyền thống văn hóa mang dấu ấn cộng đồng làng thì hầu hết người dân đều trở về làng gốc để sinh hoạt. Ở trên vùng đất mới này, chỉ là nơi để định cư, canh tác và hình thành nên những yếu tố văn hóa mới trong thời kỳ phát triển.

2. Cội nguồn nghề chẻ đá

Lần theo lịch sử để tìm lại ký ức, những người cao tuổi ở đây kể rằng: ban đầu, người dân từ xa xưa chỉ biết lấy những hòn đá cuội, đá tổ ong, hòn đá mồ côi… qua một vài thao tác giản đơn người ta tạo ra những sản phẩm dùng phục vụ cho nhu cầu hàng ngày như đá để xếp làm ranh giới hàng rào giữa các nhà, kè đá các con đường làng, kè tạo ra thành từng bể nước, vách ngăn tạo ra các máng dẫn, làm bi giếng, đá phiến lót thành giếng, bể đựng nước, lót tam cấp nhà đường lên xuống… Lâu dần, do nhu cầu của cuộc sống, tay nghề của họ được nâng lên, người ta bắt đầu tạo ra những sản phẩm có tính kỹ thuật cao, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

Tuy nhiên, để trở thành một nghề chính mưu sinh trong cuộc sống thì theo lời kể của ông Hoàng Văn Thược 70 tuổi làng Hà Thanh xã Gio Châu, Gio Linh (Người làm đá lâu năm của làng Hà Thanh) nghề làm đá xuất hiện dưới thời thuộc Pháp do một nhóm người có gốc gác từ tỉnh Thừa Thiên Huế ra định cư tại xứ Biền mũi đá thuộc đất Hà Thanh (Gio Châu nay là xã Gio Hòa), ban đầu họ chỉ biết chẻ đá theo kiểu lô-ka (tên gọi của Pháp) có nghĩa là dập ra từng viên có kích thước to hay nhỏ tùy theo công đoạn. Mục đích là để chắn hai bên vỉa đường đi vì đất Hà Thanh pha cát nên mùa mưa lụt thường bị trôi đất, cứ thế dần dần nghề khai khác đá tự do phát triển rầm rộ sản phẩm làm ra bán cho các thương nhân đầu tư, phu làm đường cho thực dân Pháp để xây dựng các công trình ở miền Trung. Đây là một cơ hội mở rộng hoạt động nghề chẻ đá Hà Thanh (Gio Linh). Từ đó con cháu trong làng đi theo để học và làm nghề này. Với đôi bàn tay khéo léo, lòng yêu nghề của những người thợ tài hoa từ miền Bắc, miền Trung, bằng trí sáng tạo, qua thời gian, kinh nghiệm và sự miệt mài trong lao động họ đã dần chuyển từ chẻ đá đơn thuần để làm ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân như làm trụ cột nhà, đá chân cột, đá xây, cối xay, cối giã, tạc hình các con “vật linh” đặt tại các miếu. Sản phẩm làm ra ngày càng nhiều không chỉ tiêu thụ trong địa phương mà các vùng lân cận cũng đến đặt hàng. Nghề làm đá nhờ vậy ngày càng phát triển và xây dựng cho mình một thương hiệu riêng trên thị trường của mảnh đất miền Trung. Những người con của vùng đất Hà Thanh này luôn giữ cho mình cái nghề để rồi dù đi bất cứ nơi đâu họ cũng có cái nghề để mưu sinh và phát triển trên vùng đất mới.

Do nhu cầu của xã hội, nghề làm đá ngày càng phát triển và mở rộng khắp các địa phương của vùng tây Gio Linh. Trong những năm 80, nghề chẻ đá phát triển, một số xã hình thành các hợp tác xã chuyên nghề làm đá như: HTX An Xuân, Tân Bình (Gio An), DNTN Trường Danh, DNTN Hồng Vân, HTX Hữu Đạt, Công ty TNHH Hải Quang, HTX Đồng Lợi (Gio Hòa)...

3. Nhọc nhằn nghề chẻ đá

Sản phẩm của nghề chẻ đá truyền thống được tạo ra bởi các bí quyết sản xuất và đòi hỏi kỹ năng, kỷ xảo cao, được truyền từ đời này sang đời khác. Để làm được nghề này, người thợ phải nắm bắt được hình dạng của từng khối đá khác nhau. Từ đó xác định những điểm cơ yếu trên khối đá xanh xám, đá mồ côi được lấy về, từ đó mới có thể chẻ để hạn chế tối đa đá bị vỡ vụn hoặc không theo ý muốn ban đầu. Đây là một kỹ thuật cơ bản mà bất cứ người thợ chẻ đá nào cũng phải nhuần nhuyễn mới trụ vững được với nghề.

Thông thường, thợ chẻ đá là những thanh niên trẻ, có sức khỏe tốt, hầu hết là đàn ông. Họ vừa là người thợ trực tiếp làm ra sản phẩm nhưng đồng thời cũng có thể là người đóng vai trò quản lý, chỉ đạo sản xuất.

Dụng cụ của người thợ chẻ đá bao gồm 1 cái thuốn sắt dài 2m dùng để thăm dò đá nằm sâu trong lòng đất, 1 cái búa con (2-3kg), 1 cái búa tạ (5kg), 10 con sáo (sáo là một thanh sắt dài khoảng 20cm, một đầu được đập nhọn), 10 đến 15 con chạm (chạm là một thanh sắt được rèn bằng loại thép tốt, dài 5cm-10cm, một đầu đập dẹp tạo thành lưỡi sắc), 1 cái xà beng và các loại cuốc, xẻng. Đặc biệt, dụng cụ xẻ đá phải được mài dũa thường xuyên vì đồ nghề phải sắc mới làm được.

Đá ở đây chủ yếu có 2 loại, người dân thường gọi là đá xanh xám (đá mồ côi) và đá tổ ong. Khi dùng thuốn thăm dò, nếu phát hiện có đá ở bên dưới lòng đất thì dùng cuốc xẻng đào lên và tập kết về cơ sở chẻ đá. Sau đó bắt đầu công đoạn chẻ đá.

Muốn chẻ một tảng đá to (khoảng 1 khối đá) ra thành các viên đá như mong muốn thì người thợ phải tinh mắt để chọn mặt đá phù hợp cho việc mở sáo. Bằng cảm quan và kinh nghiệm nghề nghiệp, người thợ chẻ đá sẽ chọn mặt đá có thớ/xứa thuận, dài liền mạch, dễ chẻ. Khi đã chọn được mặt mở sáo phù hợp thì dùng 3 con sáo đóng thẳng hàng trên mặt đá dọc theo thớ/xứa của đá để tạo thành các lỗ nhỏ. Sau đó, đặt chạm phá vào và dùng búa tạ nện liên tục lên đầu chạm để cho đá vỡ ra làm đôi. Tiếp theo, dùng chạm vừa để tiếp tục chẻ đôi ra thêm một lần nữa. Nếu đá vẫn còn lớn thì dùng chạm nhỏ để chẻ tiếp cho đúng kích cỡ mới thôi; sau đó, dùng búa con để trau chuốt lại cho viên đá được vuông thành sắc cạnh. Cứ như vậy, người đục, người chạm, người quai búa, người bẩy, người vác đá... trở thành một dây chuyền sản xuất đồng bộ, nhịp nhàng.

Sản phẩm đá ngày nay chủ yếu là đá chẻ thường có kích thước 20cm x 30cm; độ dày 12cm hoặc 20cm x 25cm x10cm. Tùy vào kích cỡ của người đặt hàng, muốn dùng vào việc gì thì sẽ đặt hàng sao cho phù hợp. Ngoài ra, trong quá trình chẻ, những loại đá bị chênh hoặc không tạo thành viên thì gọi là đá hộc, dùng để kè hoặc xây móng các công trình. Loại nhỏ hơn bị vỡ vụn, gọi là đá 4-6 dùng làm đá chèn hoặc lát đường trong xây dựng. Những loại đá này người ta sẽ được bán theo khối. Mỗi khối bán được từ 120-150 nghìn đồng. Do vùng nguyên liệu ngày càng bị thu hẹp, người dân nơi đây còn khai thác thêm một loại đá mới gọi là đá suối - loại này nằm lộ thiên nhưng người dân phải đi xa mới khai thác được.

 Mỗi ngày, một người thợ làm nghề chẻ đá thu nhập từ 80.000 đến 100.000 nghìn đồng. Dẫu mỗi viên đá làm ra không hề đơn giản mà phải đổi mồ hôi thậm chí cả máu nhưng thị trường tiêu thụ và giá thành lại bấp bênh. Một tháng chỉ làm được 15 đến 20 ngày, lúc trời mưa, đá tiêu thụ không được thì thợ phải nghỉ ở nhà. Người dân nơi đây đều nhận rõ sự khó khăn từ đá, nhưng chính đá đã cho họ một cuộc sống dù còn nhiều cơ cực nhưng cũng thoát khỏi đói nghèo. Ngày ngày bươn chải mưu sinh với đá nên chăng đá tôi luyện cho họ sự rắn rỏi và sức chịu đựng và cho dù thu nhập được bao nhiêu đi chăng nữa thì người dân ở đây vẫn rất yêu nghề, bởi một lý do khá giản đơn đó chính là quê hương, là cái nghề của ông cha truyền lại. Thực tế đặt ra cho một số xã miền tây Gio Linh hiện nay là người lao động đang rất thiếu việc làm, người làm nghề khai thác đá tìm cho mình một nghề mới rất khó cho nên dù khó khăn vất vả họ cũng bám lấy nghề này.

 

*

*              *

Nghề đẽo, xẻ, chẻ đá ở các làng vùng tây Gio Linh là một nghề thủ công hình thành từ lâu đời nhưng phát triển mạnh từ thời thuộc Pháp do nhu cầu chẻ đá để phục vụ xây dựng. Trải qua thời gian, nghề xẻ, chẻ đá được lưu truyền và cũng đi qua nhiều bước thăng trầm. Để có được các sản phẩm đáp ứng với thị trường của từng thời kỳ, từ những vật dụng cối xay, cối giã, đá táng chân cột, vật thờ... đến các loại đá phục vụ cho nhu cầu xây dựng, những người thợ đá đã phải nhọc nhằn vật lộn với nắng gió để rèn luyện tay nghề, nâng cao nghề và giữ nghề. 

Trong đời sống hiện nay, sự phát triển của nghề chẻ đá sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thêm thu nhập và tạo thêm nhiều việc làm, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội nông thôn. Việc bảo tồn và phát triển làng nghề sẽ tăng thêm sức mạnh cội nguồn, để mỗi người dân Quảng Trị yêu quý, trân trọng, giữ gìn di sản, bản sắc văn hóa dân tộc./.

 

Trích từ: Thông tin khoa học số 3.

Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Lệ

 


1 Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1997, tr. 82.

1 Quyết định số 117-TCCP của Bộ trưởng trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ ngày 9-3-1992. Dẫn theo Nguyễn Quang Ân. Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới hành chính (1945 - 2002). Nxb Văn hoá Thông tin. Hà Nội. 2003, tr. 565.

 

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
NGHỀ CHẺ ĐÁ Ở VÙNG TÂY GIO LINH (5/11/2018)
VỀ NHÓM HIỆN VẬT "HỦ GẠO TIẾT KIỆM" TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (5/9/2018)
ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (16/8/2018)
VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYÊN HƯỚNG DẪN VÀ GIỚI THIỆU KHÁCH THAM QUAN TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ (14/8/2018)
(6/8/2018)
DI TÍCH VĂN HÓA CHĂM PA Ở QUẢNG TRỊ - NHÌN TỪ NHỮNG HUYỀN TÍCH ĐÃ ĐƯỢC VIỆT HOÁ (25/7/2018)
MỘT SỐ PHÁT HIỆN MỚI VỀ KHU CÔNG XƯỞNG CHẾ TÁC CÔNG CỤ ĐÁ CỦA NGƯỜI NGUYÊN THUỶ Ở XÃ HƯỚNG LẬP, HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ. (21/6/2018)
THƯỢNG THƯ LÊ TRINH - MỘT ĐẠI THẦN TRIỀU NGUYỄN CÓ TÌNH CẢM VỚI QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC (4/6/2018)
VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG QUẢNG TRỊ. (4/6/2018)


Thiết kế bởi: Công ty TNHH MTV Xa Lộ Thượng mại